MÁY ĐO ĐỘ LOÃNG XƯƠNG DXA CÔNG NGHỆ LASER

 1. Giải pháp tuyệt vời cho các phòng khám tại bệnh viện hay phòng khám tư nhân.
    - Thời gian chuẩn đoán ( chưa tới 1 phút)
    - Không cần phòng chì vì lượng bức xạ > 0,2 .
 2. Thuận tiện cho việc khám lưu động với kích thước nhỏ gọn.
 3. Công nghệ DXL độc quyền đưa ra kết quả chính xác và loại bỏ các lỗi đến từ DXA.
 4. Chất lượng sản phẩm tuyệt vời đến từ Châu Âu.
 5. Chi phí hiệu quả


Kỹ thuật hấp thụ tia X kép và kỹ thuật laser (DXL) trong lĩnh vực nghiên cứu mật độ xương để đánh giá loãng xương là một cải tiến của Kỹ thuật DXA , bổ sung một phép đo laser chính xác về độ dày của vùng được quét. Việc bổ sung độ dày đối tượng sẽ thêm đầu vào thứ ba vào hai năng lượng tia X được sử dụng bởi DXA, giải quyết tốt hơn phương trình cho xương và loại trừ hiệu quả hơn các thành phần mô mềm này.
- Cơ thể bao gồm ba thành phần chính: khoáng xương , mô mềm nạc (da, máu, nước và cơ xương) và mô mỡ (mỡ và tủy xương vàng). Các thành phần khác nhau này có các đặc tính làm giảm x-quang khác nhau. Tiêu chuẩn trong quét mật độ khoáng xương được phát triển vào những năm 1980 được gọi là Hấp thụ tia X kép , được gọi là DXA. Kỹ thuật DXA sử dụng hai mức năng lượng tia X khác nhau để ước tính mật độ xương . Quét DXA giả định mối quan hệ liên tục giữa số lượng mô mềm nạc và mô mỡ. Giả định này dẫn đến sai số đo lường, ảnh hưởng đến độ chính xác cũng như độ chính xác.
- Để giảm các lỗi mô mềm trong DXA, công nghệ DXL đã được phát triển vào cuối những năm 1990 bởi một nhóm các nhà nghiên cứu Thụy Điển do Giáo sư Ragnar Kullenberg dẫn đầu. Với công nghệ DXL, vùng quan tâm được quét bằng cách sử dụng tia X năng lượng thấp và năng lượng cao như khi quét DXA. Cải tiến của DXA với DXL là, đối với mỗi pixel được quét bởi DXA, độ dày chính xác của đối tượng đo cũng được đo bằng laser. Kết quả DXL cho phép ước tính mật độ xương chính xác hơn bằng cách sử dụng ba đầu vào riêng biệt (năng lượng tia X thấp và cao cộng với độ dày) thay vì hai cho mỗi pixel trong vùng đo.